Xeri (Ce)
Xeri là nguyên tố phong phú nhất trong số các nguyên tố đất hiếm trong vỏ Trái Đất.
Tính chất của Xeri
- Khối lượng nguyên tử
- 140,12 u
- Loại
- Họ lantan
- Nhóm
- —
- Chu kỳ
- 6
- Khối
- khối f
- Độ âm điện
- 1,12
- Nhiệt độ nóng chảy
- 1.068 K (794,8 °C)
- Nhiệt độ sôi
- 3.716 K (3.442,8 °C)
- Khối lượng riêng
- 6,77 g/cm³
- Điện tích thường gặp
- +3, +4
- Số oxi hóa
- +4, +3
- Bán kính nguyên tử
- 235 pm
- Năng lượng ion hóa
- 5,539 eV
- Ái lực electron
- 0,5 eV
- Phóng xạ
- Không, có đồng vị bền
- Năm phát hiện
- 1803
Cấu hình electron của Xeri
- Cấu hình electron
- [Xe] 4f1 5d1 6s2
- Cấu hình electron đầy đủ
- 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d10 4s2 4p6 4d10 4f1 5s2 5p6 5d1 6s2
- Lớp electron
- 2 · 8 · 18 · 19 · 9 · 2
Cấu hình electron của Xeri (Ce) là [Xe] 4f1 5d1 6s2. 58 electron của nó được sắp xếp trong các lớp theo kiểu 2, 8, 18, 19, 9, 2.
Proton, neutron và electron trong Xeri
Một nguyên tử Xeri trung hòa có 58 proton và 58 electron. Hầu hết nguyên tử Xeri có khoảng 82 neutron: khối lượng nguyên tử làm tròn thành 140, trừ đi số hiệu nguyên tử 58.
Số neutron chỉ là gần đúng: các nguyên tử của cùng một nguyên tố có thể có số neutron khác nhau (đồng vị). Số hiệu và khối lượng nguyên tử
Xeri có bao nhiêu electron hóa trị?
2
Xeri có 2 electron hóa trị ở lớp ngoài cùng. Là nguyên tố khối f, các electron 4f hoặc 5f của nó cũng có thể tham gia liên kết.
Sơ đồ obitan của Xeri
Mỗi ô là một obitan chứa tối đa hai electron có spin ngược chiều (↑↓). Các lớp trong giống với khí hiếm trong ngoặc. Cách viết cấu hình electron
Khối lượng mol của Xeri
140,12 g/mol
Một mol nguyên tử Xeri (6,022 × 10²³ nguyên tử) có khối lượng 140,12 gam. Hãy dùng giá trị này để đổi giữa gam và mol.
Thông tin về Xeri
- Xeri là nguyên tố phong phú nhất trong số các nguyên tố đất hiếm trong vỏ Trái Đất.
- Nó được đặt theo tên hành tinh lùn Ceres, vừa được phát hiện hai năm trước đó, năm 1801.
- Xeri (Ce) có số hiệu nguyên tử 58 và ở trạng thái rắn ở nhiệt độ phòng. It was discovered in 1803.
Vị trí trong bảng tuần hoàn
Xeri là nguyên tố số 58, ở chu kỳ 6 của bảng tuần hoàn. Nó là một trong các nguyên tố Họ lantan thuộc khối f, được xếp ở các hàng bên dưới bảng chính.
Ứng dụng của Xeri
Xeri oxit là bột đánh bóng tiêu chuẩn cho thủy tinh, dùng để hoàn thiện thấu kính, gương và màn hình điện thoại. Xeri cũng giúp bộ chuyển đổi xúc tác lưu giữ và giải phóng oxi, và được thêm vào thủy tinh để chặn tia cực tím. Khi trộn với sắt trong hợp kim ferroxeri, nó tạo ra các “đá lửa” đánh tia lửa trong bật lửa và dụng cụ nhóm lửa.
Ai đã phát hiện ra Xeri?
Xeri được Jöns Jacob Berzelius và Wilhelm Hisinger phát hiện năm 1803 ở Thụy Điển, và độc lập bởi Martin Heinrich Klaproth ở Đức, trong khoáng vật ngày nay gọi là xerit. Kim loại tinh khiết mãi đến năm 1875 mới được tách ra.
Tên gọi bắt nguồn từ đâu?
Xeri được đặt tên theo Ceres, một hành tinh lùn trong vành đai tiểu hành tinh được phát hiện năm 1801, hai năm trước nguyên tố này. Bản thân Ceres được đặt theo tên nữ thần nông nghiệp của La Mã.
Họ lantan
So sánh Xeri
Câu hỏi thường gặp
Cấu hình electron của Xeri là gì?
Cấu hình electron của Xeri (Ce) là [Xe] 4f1 5d1 6s2. 58 electron của nó được sắp xếp trong các lớp theo kiểu 2, 8, 18, 19, 9, 2.
Xeri có bao nhiêu proton, neutron và electron?
Một nguyên tử Xeri trung hòa có 58 proton và 58 electron. Hầu hết nguyên tử Xeri có khoảng 82 neutron: khối lượng nguyên tử làm tròn thành 140, trừ đi số hiệu nguyên tử 58.
Xeri có bao nhiêu electron hóa trị?
Xeri có 2 electron hóa trị ở lớp ngoài cùng. Là nguyên tố khối f, các electron 4f hoặc 5f của nó cũng có thể tham gia liên kết.
Khối lượng mol của Xeri là bao nhiêu?
Khối lượng mol của Xeri là 140,12 g/mol. Đây là con số giống với khối lượng nguyên tử của nó, 140,12 u.
Xeri có phải là kim loại không?
Có. Xeri là một lantanit, nên nó là kim loại.
Xeri có phóng xạ không?
Xeri thông thường không phóng xạ: nó có ít nhất một đồng vị bền. Cũng như mọi nguyên tố, nó còn có các đồng vị phóng xạ, phần lớn được tạo ra trong phòng thí nghiệm.
Xeri nằm ở đâu trong bảng tuần hoàn?
Xeri là nguyên tố số 58, ở chu kỳ 6 của bảng tuần hoàn. Nó là một trong các nguyên tố Họ lantan thuộc khối f, được xếp ở các hàng bên dưới bảng chính.